hoahongsamachp

Trang

  • Trang chủ

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

GIỚI THIỆU TRANH KHỎA THÂN THỜI PHỤC HƯNG



GIỚI THIỆU TRANH KHỎA THÂN THỜI PHỤC HƯNG

Mỹ thuật Phục Hưng 

Mỹ thuật Phục Hưng có thể chia thành các giai đoạn: 

A. Tiền Phục hưng (từ thế kỉ 13 đến hết TK14): 
- Bước ngoặt quan trọng về văn chương: Danté dùng tiếng Italia thay Latin trong văn chương (thần khúc) 
- Các nghệ sĩ dần dần bỏ nghệ thuật Trung cổ khô cứng, phụ thuộc để tìm ở các di sản Hy lạp -La Mã những yếu tố nhân văn: đề cao con người và nhận thức thẩm mỹ hiện thực. 

Giotto (1276 - 1377) họa sĩ- điêu khắc- kiến trúc sư: Là người đặt nền móng cho mĩ thuật phục hưng 
- Từ bề chất khổ hạnh của nghệ thuật Trung Cổ 
- Tìm tòi cái đẹp con người qua xúc cảm tạo hình. 
- Tập trung vào sự kiện cơ bản, vứt bỏ chi tiết tự nhiên chủ nghĩa. 
- Chú trọng tạo chất, tạo khối, tạo không gian 3 chiều ở kiến trúc 


Legend of St Francis



The Marriage at Cana



The Mourning of Christ 


B. Phục hưng (TK15) 
- Thời kỳ Phục Hưng kéo dài khoảng 200 năm (1400 đến 1600), Trung tâm ở Florence 
- Các tác phẩm mang tư tưởng nhân văn: ca ngợi chủ nghĩa ạnh hùng, sức mạnh con người. 
- Bỏ lối vẽ chi tiết cũ sang khái quát hóa hình thức hoành tráng. 
- Tìm chỗ dựa ở nghệ thuật cổ đại Hy lạp - La mã. Nghiên cứu giải phẫu - xa gần. 

1. Donatello (1386 -1466) 
- Nhà điêu khắc, quê ở Florence 

- Sáng tạo độc đáo, vững vàng. 
- Đổ tượng đồng đầu tiên: tượng đài kỵ sĩ Gattamelata ở Padoue phỏng theo tượng đài kị sĩ Macr Aurèle thời La mã, có cá tính hơn. 
- Là thày của Michel Angielo 




Kỵ sĩ Gattamelata ở Padoue
2. Verrochio (1435-1488) 

- Tượng David (đồng) 
- Thầy của Leonardo da Vinci. 

Tượng đồng David 



Madonne, 1470 - 1475 

3. Paolo Uccello(1397 - 1475) 
- Tìm ra luật xa gần sơ khởi ( để Vinci đi sâu hơn) 
- Tranh: chiến trận ở San Romano. 


La battala de San Romano 

4. Sandro Botticelli (1444 -1510) 
- Đường nét trang trí tinh tế, nét vẽ sắc sảo, sinh động. Cơ thể kéo dài, cử động nhẹ nhàng. Xem tranh có cảm giác nín thở để tôn trọng nỗi buồn thơ mộng 
- Tranh: Mùa Xuân (khu vườn của thần vệ nữ); Sự ra đời của thần vệ nữ (1485) 
- Những sáng tác năm 1500, trước đó tự đốt tranh rồi thất vọng 

Allegory of Spring 




The birth of Venus 

5. Andrea Mantegna (1431 - 1506) - Họa sĩ phục hưng Italy, chỉ chuyên đề tài đạo thiên chúa. 
- Tạo hình khốc liệt, có sức mạnh chiều sâu của luật xa gần. 
- Tranh : lời cầu nguyện trong vườn. 



The Agony in the Garden
The Lamentation over the Dead Christ

6. Albrecht Durer (1471 - 1528)

- Họa sĩ phục hưng người Đức
- Vẽ sơn dầu, màu nước, tranh khắc kim loại.
- Nhà hình họa xuất sắc. Tạo hình khúc triết, chi li, cấu trúc phức tạp và quằn quại, mang âm hưởng của triết hềc Đức.
- Tranh : Tự họa đang khoác áo da, Khóc than bên Chúa trở nạn, Bốn vị thánh tông đồ, Hiệp sĩ - cái chết và quỷ dữ, Sầu muộn. 

Lễ Mân Côi, 1506 



Hiệp sĩ, Thần chết và Quỷ dữ

7. Jérôme Bosch (1453 - 1516) 
- Họa sĩ cuồng loạn, cổ quái và điên rồ. 
- Xuất hiện tương đương cuối thời phục hưng nhưng không nằm trong dòng phục hưng vì ý tưởng quá táo bạo - quái đản, chuyên vẽ những tội lỗi đáng trừng phạt của con người và cảnh con người bị trừng phạt dưới địa ngục. 
- Tranh: vườn hoan lạc, Nâng thánh giá. 



Jardin des Délices


Les Tentations de saint Antoine 

Phục hưng cực thịnh (cuối TK 15, đầu TK 16).1. Leonardo da Vinci (1452 - 1519) 
- Họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, toán học, vật lý, hóa học, cơ khí ... 
- 14 tuổi đến Florence học Verrocchio trong 6 năm. 
- Đề ra lý thuyết cơ bản của luật xa gần, giải phẫu, tỷ lệ cơ thể. 
- Tranh "Buổi họp kín" (bữa tiệc cuối cùng), tưởng là sơn dầu nhưng chỉ là tranh tường nền họa - do kỹ thuật xa gần, giải phẫu xuất sắc mà tạo được hiệu quả đặc biệt; "La Gioconde" hoặc Joconda vẽ MonaLisa: lần đầu tiên vẽ một chân dung độc lập, người thường (các họa sĩ trước đó chỉ vẽ chân dung vua chúa, hoặc những quan lại giàu có) có tính cách, hòa hợp với phong cảnh phía sau, cười bí ẩn, mắt nhìn khán giả. 



The Mona Lisa




The Last Supper 

2. Raphaello (1483 - 1520) - Chết trẻ 37 tuổi, họa sĩ vững vàng, trữ tình, bố cục xuất sắc, ý nghĩa lớn lao. 
- Tranh "Đức mẹ Sixtinis" bố cục tam giác, gần như đăng đối, ánh sáng mạnh, khái quát hình tượng, lý tưởng hóa, trong sáng, hiến dâng, bảo vệ, tình mẫu tử. 
- Tranh "trường học Athène" cuộc đấu tranh về quan điểm triết học quyết liệt và sâu sắc trong khung cảnh mang tính nhân văn. 



Đức mẹ Sixtine




3. Michel Angelo (1475 - 1564) 
- Họa sĩ, điêu khắc, một nghệ sĩ tích cực, làm việc không nghỉ, tham gia khởi nghĩa. 
- Tượng David (đá), Thánh Moise (đá), La Pièta (đá), các tượng ngày - đêm canh lăng mộ Médicis, "người nô lệ"... 
- Tranh trần nhà thờ Sixtinischen 343 hình tượng - 48 x 13m, 4 năm trời nằm trên giàn giáo, ngửa mặt lên trần, bị vẹo cổ. Các hình tượng: khỏa thân, cơ bắp cuồn cuộn, tư thế vặn mình rất khó, toát lên vẻ đẹp nhân văn của con người. Đa dạng, giữ dội đầy nhiệt huyết. 

Tượng David (đá) 




Decke der Sixtinschen Kapelle 

4. Giorgione (1476 - 1510) 
- Họa sĩ độc lập, không vẽ theo đơn đặt hàng của nhà thờ. 
- Chú trọng nhịp điệu , giàu cảm xúc, tạo chiều sâu không gian có tương quan sáng tối mạnh để nổi bật chủ đề. 
- Tranh "Dông bão", Đức mẹ đi lánh nạn. Sắc thái thiên nhiên lần đầu tiên trong hội họa châu âu. 
[image]local://2/B4F56F0A040C42518E119D9A73DB3F5F.JPG[/image]
Moisés en la prueba del oro el fuego



Venus dormida

5. Titien (1477 -1576) ở Venice, kế tục Giorgione 
- Bút pháp phóng khoáng có chủ định. 
- Vẽ nhiều chân dung thật, sâu lắng, có cá tính, trung thực, không tô vẽ. 
- "chân dung Charles V", Chân dung người anh trẻ tuổi. 
- Diane và Actéon, Vũ hội, Thần rượu nho và Ariane. 



Flora (1515)



Vénus d'Urbin (1538) 

6. Corrège (1489 - 1534) hết sức trữ tình bay bổng. 
- Tình cảm dạt dào trong sáng, ánh sáng và bút pháp xuất sắc. 
- Tranh : Sự ra đời của Đức Chúa hài đồng, Đức mẹ và đức chúa hài đồng 
- Tất cả các tranh của Correge đều: 
+ Táo bạo về bố cục 
+ Kỳ lạ về nguộn sáng 
+ Tả chất da thịt diệu kì 
+ Tả tình mẫu tử đằm thắm dịu dàng nhất (qua mặt cả Raphaelo chỉ tiếc là tác phẩm của Correge thua về tầm cỡ đồ sộ và yếu hơn về sức nặng tư tưởng). 


Saint Pierre, Sainte - Marthe, Marie - Madeleine et saint Léonard




Sainte Catherine 

Kiểu cách - Kiểu sức - Maniérisme (từ 1520 trở đi) 
- Mỹ thuật: kỹ thuật cao, xúc cảm có vẻ xáo động giữ dội nhưng thực chất trống rỗng, khô lạnh, thiếu sức sống nội tâm. Tuy vậy vẫn có những họa sĩ lớn, tạo ra những hiệu quả đặc biệt. 
- Tự suy sụp do ngoại xâm Pháp -Đức - Áo- buôn bán và công nghệ giảm sút 

1. Tintoretto (1528 -1594) ở Venise. Dằn vặt, xáo động. 
- Tranh : tìm ra cơ thể thánh Mare, Suzanne và các lão già nhìn trộm. 



La ascensión de Cristo 



Moisés golpeando la roca


2. Veronèse (1528-1588) ở Venise - niềm vui sống, rực rỡ màu hội họa, nhiều cử động cường điệu gợi ý cho nghệ thuật Baroc "Mũ miện cho Đức mẹ", "Những người hành hương Emmaus" 



La bataile de Lépante 


Mars et Venus 


3. Albrecht Altdorfer (1480 - 1538) họa sĩ Đức. 
- chiến trận Alexandre (1528, không gian bao la, chiến trường đông nghẹt) 



Resurrection by Altdorfer, 1518


St George and the Dragon, 1510 

4. El Greco (1541 -1614) người Hy Lạp sống ở Tây Ban Nha, tên thật là Theotokopoulos 
- Kéo dài nhân vật, diễn tả quyêt liệt, hình tượng táo bạo. 
- "hạ huyệt quận công Orgaz, Cảnh ở Toledo, Mở niêm ấn thứ năm. 



The Assumption of the Virgin (1577 - 1579) 


The Burial of Count Orgaz (1586 - 1588) 

5. Agnolo Bronzino (1503 - 1572)
 ở Florence 

- họa sĩ cung đình của dòng hề Medici (1) 
- Vẽ nhiều bố cục có đề tài thần thánh và các chân dung nhà Medici "câu chuyện thần thoại" hoặc "biểu tượng của Vệ nữ và Cupid", "Hạ thánh giá", Sự tuẫn đạo của thánh Lorenzo. 
(1). Medici, dòng hề cai quản Florence trong suốt gần 1 thế kỷ, và giàu nhất Châu Âu thời bấy giờ. Vừa có tiền và quyền lực (từng có 2 người trong dòng hề làm Giáo Hòang Vatican), cho nên hầu hết các họa sĩ nổi tiếng tại Florence thời kỳ này như: Raphael, Botticeli,Michelangelo ... đều nằm dưới sự bảo trợ của dòng hề Medici. 



The Deposition of Christ



Venus, Cupid, Folly and Time





C. Giai đoạn cuối thời kỳ Phực Hưng:
Ra đời phong cách mới là Mannerism với Bronzino là hoạ sĩ tiên phong. Sau đó đến thời kỳ Baroque.
Đặc điểm của Mannerism là các nhân vật trong tranh bị "uốn nắn" một cách sách vở đến mức thiếu tự nhiên. Bronzino là hoạ sỹ tiên phong cho phong cách này, ngoài ra còn có Pontormo, Beccafumi ...

1. Domenico Beccafumi (1486 - 1551)




Annunciazione, ca 1546



La Giustizia, 1530 - 1535



San Paolo in trono 

2. Jacopo da Pontormo (1494 - 1557): Họa sĩ Ý



Cappella dei Papi




La Pomona


Điểm đáng chú ý trong hội họa thời kỳ Phục Hưng:
+ Lần đầu tiên sử dụng sơn dầu làm chất liệu
+ Sử dụng luật phối cảnh tạo chiều sâu
+ Các hoạ sĩ vẽ rất nhiều tranh khỏa thân, ngay cả trong tôn giáo, các thiên thần, thánh thần.
 




100 năm nghệ thuật Nude (nuy)

Vậy là đã 100 năm kể từ ngày hoạ sĩ Cézanne tổ chức phòng tranh mùa thu tại Paris , trong đó có bức tranh khoả thân "Thiếu nữ đang tắm" gây sự chú ý đặc biệt đối với giới nghệ sĩ và công luận.
Bức tranh đó chính thức mở ra một xu hướng mới trong nghệ thuật vẽ tranh khoả thân hiện đại. Cùng với ông, hoạ sĩ thiên tài Picasso với bức Những cô gái vùng Avignon đã thực sự gây chấn động giới mỹ thuật. Để rồi từ đó, giới nghệ thuật đã lấy mốc năm 1907 làm năm khởi đầu của nghệ thuật Nude (nuy).
Tuy nhiên, trước đó, nghệ thuật nuy đã có từ rất lâu. Thời Hy Lạp cổ đại với những bức tượng Venus, Apollo... đã chứng thực một thời kỳ vàng son của mỹ thuật thế giới.
Thời kỳ Phục hưng, chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp gợi cảm về 2 hình mẫu khoả thân Adam và Eva trên vòm thánh đường Sistine ở Vatican . Người vẽ chúng chính là hoạ sĩ Michelangelo (1475-1564). Giai đoạn này, Botticelli đã vẽ bức Sự ra đời của thần Vệ Nữ, một bức tranh khoả thân đã lột tả hoàn toàn những vẻ đẹp tinh khiết nhất, toàn mỹ nhất của Thần Vệ Nữ. Bức tranh này đã đặc biệt vẽ theo cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp.
Sau một thời gian bước vào bóng đêm của thời trung cổ, nghệ thuật nuy đã sống lại với một sức sống mãnh liệt hơn. Các nghệ sĩ của Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Đức... đã rất đầu tư cho thể loại này.
Các nghệ sĩ cho rằng: chỉ có tạo hình nuy mới đi đến con đường nghệ thuật vĩnh cửu. Nhiều tác phẩm ra đời ở giai đoạn này như: Phòng trang điểm của thần Venuscủa Boucher vẽ năm 1751, Khoả thân nghiêng của Renoir, Maja khoả thân của Goya,Những bộ ngực với những đoá hoa màu đỏ của Gauguin, Người cung phi lãng mạn của Carot... đã đưa giới thưởng ngoạn vào một thế giới kỳ ảo lung linh mà các nghệ sĩ đã hà hơi vào từng đường nét màu sắc của hình thể ngườiphụ nữ.
Tại khu vực Châu Á, trước công nguyên cũng đã tồn tại nhiều bức phù điêu và tượng khoả thân trong các đền thờ ở Ấn Độ. Ở Việt Nam là những tượng khoả thân ở các nhà mồ Tây Nguyên, hoặc các bức tượng phù điêu tại các thánh địa Chàm. Rõ ràng tôn giáo Hindu tôn vinh sự phồn thực.
Năm 1910, danh hoạ Léger đã vẽ bức Khoả thân trong rừng nổi tiếng. Bức tranh xử lý thiên nhiên bằng khối trụ, khối nón, khối cầu đã tạo nên một bố cục mạnh mẽ và hết sức mới mẻ. Các nghệ sĩ phương Tây trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã có nhiều tác phẩm đẹp, nhưng vẫn không bằng những bậc đàn anh đi trước. Những hoạ sĩ tài năng về tranh nuy giai đoạn này có thể kể đến như: Hornyak, Allison, Bacon...
Tại Châu Á, hoạ sĩ Nhật Bản Utamaro Kitagawa (1753-1806) với bức Những người mò trai được xem là người tiên phong cho nghệ thuật vẽ tranh khoả thân ở châu lục này. Hoạ sĩ Trung Hoa Lâm Dung rất thành công trong nghệ thuật vẽ tranh khoả thân bằng bút pháp thuỷ mạc. Nhìn chung, các nghệ sĩ Châu Á có lối tạo hình khoả thân rất mềm mại, kín đáo và mang tính triết lý ẩn dụ cao.
Ở Việt Nam , 2 hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh và Bùi Xuân Phái cũng được xem là những người đi tiên phong trong lĩnh vực này. Nguyễn Phan Chánh có bức lụa Trăng tỏ rất nổi tiếng. Miền Nam trước đây thì có hoạ sĩ Văn Đen, hoạ sĩ Rừng ... Vài thập niên gần đây thì có hoạ sĩ Thành Chương, Đỗ Quang Em, Nguyễn Quân, cố hoạ sĩ Bửu Chỉ... cũng rất thành công trong nghệ thuật vẽ tranh nuy.
Theo Lê Tấn Quỳnh - (DT)



Các tác phẩm nghệ thuật 

thời phục hưng 




















 














































PHỤ LỤC: 

Phục Hưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia




Phục Hưng (tiếng Ý: Rinascimento, từ ri- "lần nữa" và nascere "được sinh ra")[1] là một phong trào văn hóa trải dài thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, khởi đầu tại Florence (Ý) vào hậu kỳ Trung Cổ và sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu. Thuật ngữ này cũng được dùng một cách không rõ ràng để chỉ thời kỳ lịch sử, mặc dù những thay đổi của Phục Hưng không đồng đều ở khắp châu Âu, đây là cách sử dụng thông dụng của thuật ngữ.
Thuật ngữ Rinascenza (tái sinh) được nhà sử học Giorgio Vasari dùng ban đầu vào năm 1550 để chỉ sự hồi sinh và phát triển rực rỡ các hoạt động nghệ thuật và khoa học bắt đầu tại Ý vào thế kỷ 13. Sau đó, thuật ngữ Renaissance được Jules Michelet dùng trong tiếng Pháp và nhà sử học Thụy SĩJacob Burckhardt phát triển (khoảng những năm 1860). Tái sinh ở đây có hai nghĩa: một là sự khám phá lại các sách vở cổ điển và đem ứng dụng vào trong khoa học và nghệ thuật; hai là để chỉ kết quả của các hoạt động văn hóa đó mang lại sự hồi sinh cho văn hóa châu Âu nói chung. Như vậy Phục Hưng có thể hiểu theo hai cách chính tuy khác biệt nhưng đều có ý nghĩa là sự tái sinh của nền giáo dục cổ điển Tây phương thông qua sách vở, tài liệu kinh điển của phương Tây và hồi sinh của văn hóa châu Âu nói chung.
Từ Hán-Việt viết hoa Phục hưng, hay Phục Hưng, là thuật ngữ tương đương với khái niệm này.

Hồi sinh tinh thần của thời kỳ Cổ đại




Thời kỳ Phục Hưng được gọi như thế vì đặc tính cơ bản của thời kỳ này là sự hồi sinh của tinh thần thời kỳ Cổ đại. Chủ nghĩa Nhân văn chính là phong trào tinh thần cơ bản của thời kỳ này. Việc hồi sinh thể hiện ở chỗ nhiều yếu tố của tư tưởng thời kỳ Cổ đại được tái khám phá và sống lại (văn học, tượng đài kỷ niệm, tác phẩm điêu khắc, triết học,...).
Tiên đề cho tư tưởng mới của thời kỳ Phục Hưng là những ý tưởng tự tin của các nhà thơ người Ý của thế kỷ 14 như Francesco Petrarca, người thông qua các nghiên cứu rộng lớn về các nhà văn thời kỳ Cổ đại và với Chủ nghĩa Cá nhân của ông đã cổ động cho niềm tin về giá trị của sự đào tạo nhân văn và ủng hộ cho việc nghiêm cứu về ngôn ngữ, văn học, lịch sử và triết học bên ngoài quan hệ với tôn giáo.
Ảnh hưởng của những học giả nói tiếng Hy Lạp cũng rất đáng kể. Một số học giả đến Ý trong thế kỷ 13 và thế kỷ 14 từ Đế quốc Đông La Mã. Đặc biệt là sau khi người Thổ Nhĩ Kỳ chinh phục kinh đô Constantinopolis vào năm 1453 thì càng có nhiều học giả đến Venezia (tiếng Anh:Venice) và những thành phố Ý khác, những người đã mang theo kiến thức về nền văn hóa thời Cổ đại đã được lưu trữ gần 1.000 năm trong Đế quốc Đông La Mã sau khi Đế quốc Tây La Mã suy tàn. Cho đến năm 1400 các tác gia Homer, Herodotos, Platon và Aristoteles vẫn còn được rất nhiều người nhắc đến trong Đế quốc Đông La Mã. Một vài năm trước khi Đế quốc Đông La Mã sụp đổ, Giovanni Aurispa đã đến kinh đô Constantinopolis và mang về Ý trên 200 bản viết tay các tác phẩm văn học ngoại đạo.
Trong một nghĩa rộng người ta hiểu Phục Hưng là sự hồi sinh của thời kỳ Cổ đại với các ảnh hưởng của thời kỳ này đến khoa học, văn học, xã hội, cuộc sống của những tầng lớp thượng lưu và sự phát triển của con người đi đến tự do cá nhân ngược lại với chế độ đẳng cấp của thời kỳ Trung cổ. Trong nghĩa hẹp hơn Phục Hưng là một thời kỳ của lịch sử nghệ thuật.
Tên gọi trong tiếng Ý, rinascita, theo nghĩa cho khái niệm của một thời kỳ, đã có từ Giorgio Vasari, người đã viết một trong những tác phẩm miêu tả các nhà nghệ thuật Phục Hưng quan trọng nhất. Vasari chia sự phát triển của nghệ thuật ra làm 3 thời kỳ:
1.     Thời kỳ rực rỡ của Cổ đại Hy Lạp – La Mã
2.     Thời kỳ suy tàn trung gian bắt đầu thời kỳ Trung Cổ
3.     Thời kỳ hồi sinh các nghệ thuật và tinh thần Cổ đại trong thời kỳ Trung cổ từ khoảng năm 1250.
Vì thế mà các nhà điêu khắc, kiến trúc sư và họa sĩ người Ý, trong số đó có Arnolfo di Cambio, Nicolò Pisano, Cimabue hay Giotto di Bondone, ngay từ nửa sau của thế kỷ 13, "trong những thời kỳ đen tối nhất, đã chỉ ra cho những người tài giỏi đi sau con đường dẫn đến hoàn mỹ".

 

Nghệ thuật




Filippo Brunelleschi, Lorenzo Ghiberti và Donatello là những người mở đường cho hướng đi mới trong nghệ thuật có tiền thân là Nicola Pisano, Giotto di Bondone và những nghệ sĩ khác. Nói chung, ở Ý thời gian khoảng từ 1420 đến 1600 được gọi là thời kỳ Phục Hưng, trong châu Âu còn lại là thời gian từ 1500 đến 1600.
Bên cạnh sự mô phỏng theo nghệ thuật Cổ đại là việc nghiên cứu thiên nhiên tích cực hơn, một khía cạnh quan trọng trong lịch sử phát triển của nghệ thuật Phục Hưng. Ngay trước Vasari, nhiều nhà thơ như Boccaccio đã khen ngợi họa sĩ Giotto có thể vẽ lại sự vật giống như trong tự nhiên mà không có ai trước ông đạt được. Xu hướng tạo hình sự vật và con người theo tự nhiên từ đấy là một trong những ý muốn chính của các nghệ sĩ. Thế nhưng phải đến thế kỷ 15 thì các nghệ sĩ mới đạt được đến một cách miêu tả theo tự nhiên gần như hoàn hảo. Vì thế mà các sử gia về nghệ thuật thường giới hạn khái niệm Phục Hưng cho các miêu tả nghệ thuật trong thế kỷ 15 và thế kỷ 16.
Gắn liền với yêu cầu tự nhiên trong nghệ thuật là sự tôn vinh thời kỳ Cổ đại của các nghệ sĩ. Người ta ngưỡng mộ các tác phẩm nghệ thuật thời Cổ đại như là các thí dụ điển hình trong việc miêu tả theo tự nhiên và vì thế là các thí dụ đáng được mô phỏng theo trong lúc tự diễn đạt tự nhiên. Ngoài ra nhà lý thuyết về kiến trúc người Ý, Leone Battista Alberti, còn đòi hỏi các nhà nghệ thuật "không những ngang bằng với các danh nhân thời kỳ Cổ đại mà còn phải cố gắng vượt lên trên họ". Tức là nghệ thuật không những phải diễn đạt lại một cách trung thực thực tế mà còn phải cố gắng cải thiện và làm hoàn hảo tấm gương của tự nhiên.
Bên cạnh xác định mới về quan hệ của nghệ thuật đối với tự nhiên và việc ngưỡng mộ thời kỳ Cổ đại, thời kỳ Phục Hưng cũng đặt câu hỏi về bản chất của cái đẹp. Các nghệ sĩ cố gắng diễn tả một con người đẹp toàn hảo. Kích thước và tỉ lệ lý tưởng đều đóng một vai trò trong việc diễn tả cơ thể con người trong hội họa và điêu khắc cũng như trong phác thảo kiến trúc. Với cách phối cảnh cổ điển các nghệ sĩ đã phát triển một phương pháp để diễn tả sự rút ngắn trong chiều sâu không gian với tính chính xác của toán học.
Thông thường người ta chia thời kỳ lịch sử nghệ thuật Phục Hưng, đặc biệt là Phục Hưng Ý, ra làm 3 giai đoạn
1.     Sơ Phục Hưng (tiếng Anh: Early Renaissance)
2.     Thịnh Phục Hưng (tiếng Anh: High Renaissance)
3.     Hậu Phục Hưng hay Mannerism

Giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng (từ khoảng 1420 đến 1490/1500) khởi điểm từ thành phố Firenze (tiếng Anh: Florence) với những bức tượng của Donatello, tranh phù điêu đồng của Ghiberti, bích họa của Masaccio và các công trình xây dựng của Filippo Bruelleschi. Thời gian từ khoảng 1490/1500 cho đến 1520 là đỉnh cao của thời kỳ Phục Hưng. Trung tâm của thời kỳ vươn đến hoàn mỹ và hài hòa cao độ này là thành phố Roma của giáo hoàng. Đây là thời gian của phác thảo kiến trúc cho nhà thờ thánh Peter ở Roma của Bramante, các bức họa nổi tiếng nhất của Leonardo da Vinci, của Raffaello, các bức tượng và bích họa của Michelangelo cũng như các tác phẩm khắc đồng của Albrecht Dürer. Sau đó là thời kỳ Hậu Phục Hưng hay Mannerism với đặc trưng là có nhiều xu hướng nghệ thuật khác nhau. Mannerism có khuynh hướng cường điệu hóa kho tàng hình dáng của Phục Hưng (thí dụ như diễn tả cơ thể con người được kéo dài ra và uốn cong trong một cử động mạnh). Giai đoạn cuối của thời kỳ Hậu Phục Hưng dần dần chuyển sang phong cách Baroque.
Thế nhưng thời kỳ Phục Hưng không diễn ra theo một khuôn mẫu hoàn toàn giống nhau trên khắp châu Âu. Trong khi tinh thần Phục Hưng bắt đầu rất sớm và đặc biệt nở rộ ở Ý, có ảnh hưởng đều khắp trong hội họa, điêu khắc và kiến trúc thì mãi đến khoảng năm 1500 hay sau đó thời kỳ Phục Hưng mới bắt đầu ở phía Bắc của châu Âu và cũng chỉ chiếm ưu thế một phần, đồng thời mang nhiều tính cách dân tộc. Trong các quốc gia khác ngoài Ý kiến trúc và điêu khắc chịu ảnh hưởng nhiều hơn là hội họa. Tại Pháp và Đức phong cách cổ đại được hòa trộn với nhiều yếu tố dân tộc, nổi bật trong thời kỳ đầu của Phục Hưng hơn là trong thời kỳ Hậu Phục Hưng, thời kỳ mà hình dáng được thể hiện đầy đặn và mạnh mẽ hơn, chuyển đến cường điệu hóa của phong cách Baroque. Phong cách Phục Hưng tại Hà Lan, Ba Lan, Anh và Tây Ban Nha cũng mang sắc thái dân tộc.

Các nghệ sĩ nổi tiếng trong thời kỳ Phục Hưng

  • Lorenzo Ghiberti (1381–1455)
  • Donatello (1386–1466)
  • Fra Angelico (1387–1455)
  • Paolo Uccello (1397–1475)
  • Hans Multscher (ca. 1400–1467)
  • Masaccio (1401–1428)
  • Leone Battista Alberti (1404–1472)
  • Andrea Mantegna (1431–1506)
  • Andrea del Verrocchio (1436–1488)
  • Israhel van Meckenem Trẻ (1440/45–1503)
  • Donato Bramante (ca. 1444–1514)
  • Sandro Botticelli (1444/1445–1510)
  • Giuliano da Sangallo (1445–1516)
  • Domenico Ghirlandaio (1449–1494)
  • Pietro Perugino (ca. 1448–1523)
  • Leonardo da Vinci (1452–1519)
  • Luca Signorelli (ca. 1450–1523)
  • Andrea Sansovino (1460–1529)
  • Hans Holbein Già (khoảng 1465–1524)
  • Albrecht Dürer (1471–1528)
  • Hans Dürer
  • Stanisław Samostrzelnik
  • Eberhard Rosemberger
  • Francesco Florentino
  • Lucas Cranach Già (1472–1553)
  • Fra Bartolommeo (1474–1517)
  • Michelangelo Buonarroti (1475–1564)
  • Tiziano Vecellio (1477–1576)
  • Giorgione (khoảng 1477–1510)
  • Hans Burgkmair Già (1473 - 1531)
  • Albrecht Altdorfer (1480–1538)
  • Raffaello (1483–1520)
  • Antonio da Sangallo (1485–1546)
  • Andrea del Sarto (1486–1531)
  • Jacopo Sansovino (1486–1570)
  • Correggio (1489–1534)
  • Lucas von Leyden (1494–1533)
  • Hans Holbein Trẻ (khoảng 1497–1543)
  • Heinrich Aldegrever (1502–1555/61)
  • Parmigianino (1503–1540)
  • Lucas Cranach Trẻ (1515–1586)
  • Tintoretto (1518–1594)
  • Pieter Bruegel Già (khoảng 1525–1569)
  • Santi Gucci (1530-1600)
  • Bartolommeo Berrecci
  • Giovanni Baptista di Quadro
  • Bernardo Morando
  • Benedykt từ Sandomierz

 

Hội họa

Phần lớn các bức tranh của nghệ thuật Phục Hưng là các bức tranh thờ và bích họa có nội dung tôn giáo được vẽ cho nhà thờ, tranh với các đề tài trần tục hay thần thoại không mang tính tôn giáo (thí dụ như biểu tượng (tiếng Anh: allegory), huyền thoại anh hùng hay thần thánh, lịch sử Cổ đại) và chân dung cá nhân của những danh nhân đương thời. Bên cạnh đó cũng xuất hiện những tranh vẽ phong cảnh và phong tục đầu tiên, diễn tả cuộc sống thời bấy giờ.
Chiều sâu của không gian được thiết kế hình học một cách chính xác bằng phương pháp phối cảnh. Thêm vào đó là phương pháp phối cảnh không gian và phối cảnh màu. Người nghệ sĩ diễn tả cơ thể khỏa thân của con người như nghệ thuật khỏa thân bằng các tỷ lệ lý tưởng. Cách cấu trúc tranh cân bằng hài hòa và đối xứng được hỗ trợ bằng những hình dáng tam giác, bán nguyệt hay hình tròn là phong cách cấu trúc thường được ưa chuộng.

 

Điêu khắc

Các nhà điêu khắc Phục Hưng sáng tạo nhiều nhất là những tượng đứng và tượng bán thân. Trên các quảng trường thành phố là các tượng đài kỷ niệm thí dụ như các tượng kỵ sĩ. Mộ bia cho danh nhân trong và ngoài đạo liên kết tượng cùng với kiến trúc trở thành một tác phẩm nghệ thuật.
Các nhà điêu khắc Phục Hưng hướng về các tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ Cổ đại khi sáng tác. Bức tượng được làm mô hình toàn diện, con người được biểu diễn khỏa thân, tư thế hai chân thường là theo kiểu Contrapposto cổ điển. Các nghiên cứu về giải phẫu học được dùng để miêu tả lại cơ thể con người giống như trong thực tế.

 

Kiến trúc

.

Về nguyên tắc có thể phân biệt hai xu hướng khác nhau trong kiến trúc Phục Hưng. Một xu hướng hồi sinh các đường nét thời kỳ Cổ đại một cách nghiêm khắc. Tại Ý, Donato Bramante đã đạt đến mục tiêu này trong đỉnh cao của thời kỳ Phục Hưng vào khoảng năm 1500 và từ đó chiếm lĩnh ưu thế trong kiến trúc trên toàn nước Ý. Các công trình xây dựng Phục Hưng ở Ý được phác thảo trong sáng và hài hòa cân đối. Trong sơ đồ mặt bằng các kiến trúc sư hướng về các hình dáng đơn giản lý tưởng trong hình học như hình vuông hay hình tròn. Các chi tiết kiến trúc nhưcột, trụ bổ tường, đầu cột, đầu hồi tam giác,... đều trực tiếp dựa vào kiểu mẫu thời Cổ đại. Bên cạnh đó là các phát triển mới dẫn xuất từ khuôn mẫu của thời kỳ Cổ đại. Tất cả các phần xây dựng riêng lẻ đều phải được hòa hợp với nhau và với toàn bộ tòa nhà. Các luận thuyết kiến trúc của nhà xây dựng nổi tiếng người La Mã Vitruvius được tham khảo để tìm ra những tỷ lệ tương quan lý tưởng.
Xu hướng thứ hai tuy cũng dựa vào thời kỳ Cổ đại nhưng biến đổi hình dáng các yếu tố xây dựng tương tự như nghệ thuật xây dựng thời Trung cổ, không vươn đến một nghệ thuật xây dựng theo các định luật một cách nghiêm ngặt.
Nói chung khi nền văn hóa càng bám rễ sâu trong thời Trung cổ mang dấu ấn của miền Bắc châu Âu thì phong cách kiến trúc tương tự của Phục Hưng càng mạnh, tức là trước tiên là ở vùng Trung Âu và Bắc Âu. Trên bán đảo Iberia hai xu hướng này tồn tại bên cạnh nhau cho đến thời kỳ Baroque. Tại vùng châu Âu của Đức và Ba Lan hai xu hướng này được trộn lẫn một phần (thí dụ như lâu đài Heidelberg (Đức) hay lâu đài tạiWawel, Kraków (Ba Lan), thế nhưng xu hướng tương tự vẫn chiếm ưu thế cho đến thời gian cuối.

 

Văn học


Tác phẩm La Divina Commedia (1307 - 1321) của Dante Alighieri; thư, luận thuyết và thơ của Francesco Petrarca và Il Decamerone (1353) khởi đầu cho thời đại Phục Hưng của văn học trongthế kỷ 14. Bá tước Baldassare Castiglione miêu tả trong Il Cortegiano (1528) típ lý tưởng của con người thời Phục Hưng.
Cũng không nên quên rằng văn học đã phát triển mạnh mẽ sau phát minh in sách của Johannes Gutenberg trong thời kỳ Phục Hưng.
Các nhà thơ và nhà văn nổi tiếng nhất của thời kỳ Phục Hưng bao gồm:
·         Dante Alighieri (1265–1321)
·         Francesco Petrarca (1304–1374)
·         Giovanni Boccaccio (1313–1375)
·         Angelo Poliziano (1454–1494)
·         Ludovico Ariosto (1474–1533)
·         Baldassare Castiglione (1478–1529)
·         Andrzej Krzycki (1482–1537)
·         Pietro Aretino (1492–1556)
·         Torquato Tasso (1544–1595)
·         François Rabelais (1494–1553)
·         Sebastian Brant (1457–1521)
·         Erasmus (khoảng 1466–1536)
·         Thomas Murner (1475–1537)
·         Philipp Melanchthon (1497–1560)
·         Sebastian Franck (1500–1543)
·         Andrzej Frycz Modrzewski (1503–1572)
·         Mikołaj Rej (1505–1569)
·         Łukasz Górnicki (1527–1603)
·         Jan Kochanowski (1530–1584)

 

Triết học

.
Triết học thời kỳ Phục Hưng từ bỏ tư tưởng Triết học kinh viện (tiếng Anh: Scholasticism) được Kitô giáo hóa và đặc biệt là hướng về chủ nghĩa duy tâm của Platon. Tất cả các tác phẩm của Platon đều được dịch ra tiếng La tinh. Nhiều triết gia thời Phục Hưng theo chủ nghĩa Platon mới (tiếng Anh: Neoplatonism) được phổ biến bởi Marsilio Ficino và Giovanni Pico della Mirandola. Một phương hướng triết học lớn của thời kỳ Phục Hưng là chủ nghĩa Nhân văn (tiếng Anh: Humanism). Đại diện cho tư tưởng nhân văn, ngoài những triết gia khác, là:
·      Coluccio Salutati (1331-1406)
·      Erasmus (1466–1536)
·      Niccolò Machiavelli (1469–1527)
·      Thomas Morus (1478–1535)
·      William Shakespeare(1564-1616)

 

Âm nhạc


Đầu tiên, trường phái âm nhạc Hà Lan chiếm lĩnh ưu thế trong âm nhạc Phục Hưng, bắt đầu từ giữa thế kỷ 16 nhiều thúc đẩy cơ bản đến từ Ý, đặc biệt là các trường phái soạn nhạc nhưFlorentine Camerata, trường phái soạn nhạc Roma và trường phái soạn nhạc Venezia.
Một số nhà soạn nhạc thời kỳ Phục Hưng:
·         Guillaume Dufay (1400–1474)
·         Johannes Ockeghem (1425–1497)
·         Josquin Desprez (1440–1505)
·         Heinrich Isaac (1450–1517)
·         Jacob Obrecht (1450–1505)
·         Paul Hofhaimer (1459–1537)
·         Mateu Fletxa el Vell (1481-1553)
·         Ludwig Senfl (1486–1543)
·         Thomas Tallis (1505–1585)
·         Hans Neusiedler (1508–1563)
·         Giovanni da Palestrina (khoảng 1525–1594)
·         Orlando di Lasso (1532–1594)
Xem thêm: Danh sách các nhà soạn nhạc giai đoạn Phục hưng

 

Tham khảo

·    Jakob Burckhardt: Die Kultur der Renaissance in Italien (Văn hóa Phục Hưng tại Ý -1860). 2. Auflage Leipzig 1869.
·    Hubert Janitschek: Die Gesellschaft der Renaissance in Italien und die Kunst. (Xã hội Phục Hưng tại Ý và nghệ thuật) Stuttgart 1879.
·    S. Harrison Thomson: Das Zeitalter der Renaissance. Von Petrarca bis Erasmus. (Thời kỳ Phục Hưng. Từ Petrarce đến Eramus) Zürich 1969
·    Heinrich Wölfflin: Die klassische Kunst. (Nghệ thuật cổ điển) München 1898.
·    Johan Huizinga: Das Problem der Renaissance. (Vấn đề của thời kỳ Phục Hưng) Tübingen 1953.
·    Walter Paatz: Die Kunst der Renaissance in Italien. (Nghệ thuật Phục Hưng tại Ý) Stuttgart 1953.
·    André Chastel: Italienische Renaissance. (Phục Hưng Ý) München 1965.
·    André Chastel: Der Mythos der Renaissance. (Thần thoại Phục Hưng) Genf 1969.
·    Georg Kauffmann: Die Kunst des 16. Jahrhunderts. (Nghệ thuật của thế kỷ 16) 1970.
·    Jan Bialostocki: Spätmittelalter und beginnende Neuzeit. (Hậu Trung cổ và bắt đầu của thời kỳ Hiện đại) 1972.
·    Paul Oskar Kristeller: Humanismus und Renaissance. (Chủ nghĩa Nhân văn và Phục Hưng) 2 Bände. München 1976–1980.
·    Richard Mackenney: Renaissances: The cultures of Italy, ca. 1300–ca. 1600, Basingstoke: Palgrave Macmillan 2005.
·    Manfred Wundram: Renaissance. München 1978
·    Erwin Panofsky: Die Renaissancen der europäischen Kunst. (Phục Hưng của nghệ thuật châu Âu) Frankfurt am Main 1979.
·    Leonid M. Batkin: Die historische Gesamtheit der italienischen Renaissance. (Lịch sử toàn phần Phục Hưng Ý) Dresden 1979.
·    Denys Hay: Die Renaissance. Die Rückwendung zur Antike. (Phục Hưng: Quay về thời kỳ Cổ đại) München 1980.
·    Edgar Wind: Heidnische Mysterien in der Renaissance. (Những điều huyền bí ngoại đạo thời kỳ Phục Hưng) Frankfurt am Main 1981.
·    Ludwig H. Heydenreich: Studien zur Architektur der Renaissance. (Nghiên cứu về kiến trúc Phục Hưng) München 1981.
·    Ernst Hans Gombrich: Die Kunst der Renaissance I–IV. (Nghệ thuật Phục Hưng I-IV) Stuttgart 1985–1988.
·    Michael Jäger: Die Theorie des Schönen in der italienischen Renaissance. (Lý thuyết về đẹp trong Phục Hưng Ý) Köln 1990.
·    Peter Burke: Die europäische Renaissance. Zentren und Peripherien. (Phục Hưng châu Âu. Các trung tâm và ngoại vi) München 1998.
·    Boris von Brauchitsch: Renaissance. DuMont Verlag Köln 1999

Đọc thêm

·    Danh sách các nhân vật nổi tiếng thời kỳ Phục Hưng
·    Chủ nghĩa Nhân văn
·    Chủ nghĩa Nhân văn Phục Hưng
·    Kiến trúc Phục Hưng
·    Triết học Phục Hưng

Sách

·    Brotton, Jerry. The Renaissance: A Very Short Introduction (2006) excerpt and text search
·    Burckhardt, Jacob The Civilization of the Renaissance in Italy (1860), a famous classic; excerpt and text search 2007 edition; also complete text online
·    Burke, P, The European Renaissance: Centre and Peripheries ISBN 0-631-19845-8
·    Cronin, Vincent (1967), The Florentine Renaissance ISBN 0002112620
·    Cronin, Vincent1969), The Flowering of the Renaissance, ISBN 0712698841
·    Cronin, Vincent(1992), The Renaissance, ISBN 0002154110
·    Cambridge Modern History, Vol. 1. The Renaissance (1903), older atticles by scholars complete text online
·    Campbell, Gordon. The Oxford Dictionary of the Renaissance. (2003). 862 pp. online at OUP
·    Ergang, Robert (1967), The Renaissance, ISBN 0-442-02319-7
·    Ferguson, Wallace K. (1962), Europe in Transition, 1300–1500, ISBN 0-04-940008-8
·    Fletcher, Stella. The Longman Companion to Renaissance Europe, 1390-1530. (2000). 347 pp.
·    Grendler, Paul F., ed. The Renaissance: An Encyclopedia for Students. (2003). 970 pp.
·    Grendler, Paul F. "The Future of Sixteenth Century Studies: Renaissance and Reformation Scholarship in the Next Forty Years," Sixteenth Century Journal Spring 2009, Vol. 40 Issue 1, pp 182+
·    Hale, John. The Civilization of Europe in the Renaissance. (1994). 648 pp.; a magistral survey, heavily illustrated excerpt and text search
·    Hall, Bert S. Weapons and Warfare in Renaissance Europe: Gunpowder, Technology, and Tactics (2001) excerpt and text search
·    Haskins, Charles Homer (1927), The Renaissance of the Twelfth Century, ISBN 0-674-76075-1
·    Hattaway, Michael, ed. A Companion to English Renaissance Literature and Culture. (2000). 747 pp.
·    Huizinga, Johan (1924), The Waning of the Middle Ages, republished in 1990 ISBN 0-14-013702-5
·    Jensen, De Lamar (1992), Renaissance Europe, ISBN 0-395-88947-2
·    Johnson, Paul. The Renaissance: A Short History. (2000). 197 pp. excerpt and text search
·    King, Margaret L. Women of the Renaissance (1991) excerpt and text search
·    Kristeller, Paul Oskar, and Michael Mooney. Renaissance Thought and its Sources (1979) excerpt and text search
·    Lopez, Robert S. (1952), Hard Times and Investment in Culture
·    Nauert, Charles G. Historical Dictionary of the Renaissance. (2004). 541 pp.
·    Patrick, James A., ed. Renaissance and Reformation (5 vol 2007), 1584 pages; comprehensive encyclopedia
·    Plumb, J. H. The Italian Renaissance (2001) excerpt and text search
·    Robin, Diana; Larsen, Anne R.; and Levin, Carole, eds. Encyclopedia of Women in the Renaissance: Italy, France, and England (2007) 459p.
·    Rowse, A. L. The Elizabethan Renaissance: The Life of the Society (2000) excerpt and text search
·    Ruggiero, Guido, ed. A Companion to the Worlds of the Renaissance. (2002). 561 pp.
·    Rundle, David, ed. The Hutchinson Encyclopedia of the Renaissance. (1999). 434 pp.; numerous brief articles online edition
·    Speake, Jennifer and Thomas G. Bergin, eds. Encyclopedia of the Renaissance and the Reformation. (2004). 550 pp.
·    Starn, Randolph. "A Postmodern Renaissance?" Renaissance Quarterly 2007 60(1): 1-24
·    Stephens, John, The Italian Renaissance: The Origins of Intellectual and Artistic Change before the Renaissance ISBN 0-582-49337-4
·    Strathern, Paul (2003), The Medici: Godfathers of the Renaissance, ISBN 1844130983
·    Thorndike, Lynn (1943) 'Renaissance or Prenaissance?' in "Some Remarks on the Question of the Originality of the Renaissance", Journal of the History of Ideas Vol. 4, No. 1, Jan. 1943
·    Trivellato, Francesca. "Renaissance Italy and the Muslim Mediterranean in Recent Historical Work," Journal of Modern History (March 2010), Vol. 82, No. 1: 127-155.
·    Turner, Richard N. Renaissance Florence (2005) excerpt and text search
·    Ward, A. The Cambridge Modern History. Vol 1: The Renaissance (1902)
·    Weiss, Roberto (1969) The Renaissance Discovery of Classical Antiquity, ISBN 1-597-40150-1
·    Werkmeister, William H. [editor] (1959). Facets of the Renaissance. Los Angeles: University of Southern California Press.

Nguồn sơ cấp

·    Ross, James Bruce, and Mary M. McLaughlin, eds. The Portable Renaissance Reader (1977) excerpt and text search

Chú thích

1. ^ “Renaissance, Online Etymology Dictionary”. Etymonline.com. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.

Liên kết ngoài


Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Phục Hưng.


Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về:
The Civilization of the Renaissance in Italy

·    Văn học Phục Hưng châu Âu - Giáo trình Đại học Cần Thơ
·    Tiền Phục Hưng
·    Đỉnh cao thời kỳ Phục Hưng
·    Bảo tàng Web Paris: La Renaissance
·    Society for Renaissance Studies
·    Ancient and Renaissance women by Dr. Deborah Vess
·    Notable Medieval and Renaissance Women
·    Renaissance Style Guide



Người đăng: MiMi vào lúc 01:33
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: THỦY MẶC

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
MiMi
SÀI GÒN, Vietnam
Những mảnh vỡ, được gỡ ra từ những mảnh vỡ, để tìm sự lành lặn. Từng mẩu nhỏ đời sống. Khi lý giải nó, tôi đã gặp được thơ
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Bài đăng phổ biến

  • GIỚI THIỆU TRANH KHỎA THÂN THỜI PHỤC HƯNG
    GIỚI THIỆU TRANH KHỎA THÂN THỜI PHỤC HƯNG Mỹ thuật Phục Hưng   Mỹ thuật Phục Hưng có thể chia thành các giai đoạn:  A. Tiền P...
  • LOÀI HOA HỒNG SA MẠC
    LOÀI HOA HỒNG SA MẠC Khám phá hòn đảo "ngoài hành tinh" ngay trên Trái đất Đảo Socotra nằm ở Ấn Độ Dương, cách đất liền Y...
  • Tranh khỏa thân nghệ thuật
    Tranh khỏa thân nghệ thuật Nguyễn Chơn Hiền Để bày tỏ quan điểm của mình đối với một trong những tác phẩm tuyệt mỹ của tạo hóa, các họa sĩ l...
  • Bộ ảnh khỏa thân “Hành thích Tần Thủy Hoàng” gây chấn động thế giới
    Bộ ảnh khỏa thân “Hành thích Tần Thủy Hoàng” gây chấn động thế giới
  • BÍCH KHÊ, thi sĩ đã trở thành "danh họa”
    BÍCH KHÊ, thi sĩ đã trở thành "danh họa” BÍCH KHÊ, thi sĩ có "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam, nhà thơ đầu tiên ...
  • Vẽ tranh khỏa thân đỉnh của đỉnh
    Vẽ tranh khỏa thân đỉnh của đỉnh     Vẽ tranh khỏa thân    Vẽ tranh khỏa thân đỉnh của đỉnh  
  • Nét đẹp của nữ giới phương Tây theo dòng lịch sử
    Nét đẹp của nữ giới phương Tây theo dòng lịch sử Ngắm nghía và tìm hiểu chuẩn mực nét đẹp của "một nửa thế giới" qua từng t...
  • (không có tiêu đề)
                                                                                                 Người như tranh vẽ không màu mực       ...
  • THI TRINH CAFE VÀ HOA HỒNG SA MẠC
    THI TRINH CAFE VÀ HOA HỒNG SA MẠC ĐỌC THÊM: TRUYỆN THUYẾT VÀ Ý NGHĨA HOA XƯƠNG RỒNG Kích thước...
  • SÁCH: Cái Đẹp Vĩnh Cửu
                         Cái Đẹp Vĩnh Cửu ...

Tìm kiếm Blog này

Translate

Lưu trữ Blog

  • ▼  2012 (65)
    • ►  tháng 11 (2)
    • ▼  tháng 10 (30)
      • Những mỹ nhân "nghiêng nước, đổ thành" châu Á thời...
      • Nét đẹp của nữ giới phương Tây theo dòng lịch sử
      • Mỹ thuật Phục Hưng
      • Thế giới hoang dã độc đáo trong tranh Paul Miners
      • Hoàng hôn buông cho lòng ai vấn vương
      • Cổng hoa rực rỡ níu chân ai
      • Ngọt ngào trái chín mùa Thu trong tranh Ludivine ...
      • Sắc hoa dịu dàng trong tranh của Alberto Guillen
      • Lạc vào thế giới cổ tích với những mỹ nữ của Karl...
      • Khu vườn thơ mộng trong tranh của Dominic Davison
      • Những nữ thần đáng yêu trong tranh Andrei Belichenko
      • LOÀI HOA HỒNG SA MẠC
      • SÁCH: Cái Đẹp Vĩnh Cửu
      • BÍCH KHÊ 'THI SĨ THẦN LINH' PHẦN II : Thơ lõa thể
      • GIỚI THIỆU TRANH KHỎA THÂN THỜI PHỤC HƯNG
      • Vẽ tranh khỏa thân đỉnh của đỉnh
      • Bộ tranh khỏa thân mới
      • Tranh khỏa thân nghệ thuật
      • BÍCH KHÊ, thi sĩ đã trở thành "danh họa”
      • Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê
      • TInh Khiết Tính Dục: Thơ Bích Khê
      • Bộ ảnh khỏa thân “Hành thích Tần Thủy Hoàng” gây c...
      • BÍCH KHÊ - THI SĨ THẦN LINH . Phần I : Xác thịt l...
      • Sự thực về nghề ‘mẫu nude bàn tiệc’
      • THIÊN NHIÊN TUYỆT ĐẸP
      • MÈO Ú
      • Bình minh mưa
      • Ảnh nghệ thuật huyền ảo – Andrea Andrade
      • Bản tình ca mùa đông
      • THỦY MẶC
    • ►  tháng 9 (8)
    • ►  tháng 6 (4)
    • ►  tháng 5 (7)
    • ►  tháng 4 (14)

Nhãn

  • Bản tình ca mùa đông (2)
  • Bình minh mưa (4)
  • HOA HỒNG SA MẠC (1)
  • HOÀNG THIÊN (25)
  • HỒN THI SĨ (2)
  • KIỀU TRINH (5)
  • MÈO Ú (3)
  • THỦY MẶC (19)

Người theo dõi

Tổng số lượt xem trang

Đăng ký

Bài đăng
Atom
Bài đăng
Nhận xét
Atom
Nhận xét
Cung cấp bởi Blogger.. Chủ đề Thú vị. Được tạo bởi Blogger.